Thứ tư, ngày 15 tháng chín năm 2010

Bạn thân

http://www-tc.pbs.org/thewar/images/inline_pics/at_war_combat_18.jpg 
Sự kinh hoàng tràn ngập trong lòng một người lính thời Đệ Nhất Thế Chiến khi anh nhìn thấy người bạn tri kỷ của mình ngã xuống chiến trận.

Bị mắc kẹt trong một chiến hào và đạn pháo bay liên tục trên đầu nhưng người lính đó đã xin chỉ huy cho phép anh đi ra ngoài "vùng bình địa" giữa những chiến hào để đem người đồng đội bị trúng đạn trở vô.

Vị chỉ huy nói:

- Anh có thể đi nhưng tôi nghĩ công việc đó sẽ không đáng gì đâu. Có lẽ bạn anh đã chết và anh có thể đánh mất đi sự sống của bản thân mình.

Không màng đến lời của vị chỉ huy, người lính vẫn bỏ đi. Thật kỳ diệu, anh ta đã xoay sở để đến được bên người bạn của mình, nhấc anh ta lên vai và đem anh ấy trở về chiến hào của họ. Khi cả hai cùng té nhào xuống dưới hào, vị chỉ huy kiểm tra người lính bị trúng đạn rồi nhìn người bạn của anh một cách thông cảm.

-Tôi đã nói với anh rồi, công việc đó không đáng đâu. - Vị chỉ huy nói - Bạn anh đã chết, còn anh bị thương rất nặng.

Người lính trả lời:

- Mặc dầu vậy công việc đó vẫn rất đáng làm, thưa sếp.

- Anh nói đáng làm có nghĩa là sao? Bạn anh đã chết rồi cơ mà?

-Thưa sếp, công việc đó đáng làm là vì khi tôi đến bên anh ấy, anh ta vẫn còn sống và tôi rất mãn nguyện khi anh ấy nói với tôi rằng "Jim, tôi biết rằng chắc chắn anh sẽ đến với tôi!"

Trong cuộc sống, một việc có đáng làm hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào cách chúng ta nhìn nó. Hãy can đảm và làm những gì mà trái tim ta mách bảo để rồi mai sau trong cuộc sống bạn sẽ không phải ân hận vì mình đã không làm điều đó. Hy vọng rằng mỗi một người trong chúng ta sẽ ở trong vòng tay chân thật của những người bạn như vậy.

VÔ THƯỜNG











VÔ THƯỜNG
Thích Thông Huệ

Khi nói đến Vô thường liền hiểu ngay đó là luật tuần hoàn của vũ trụ. Nơi nào có sự vận hành, chuyển biến, đổi dời, nơi đó có Vô thường. Vì vậy Vô thường là một định luật phổ biến, bao gồm cả vũ trụ và nhân sinh.
Vì mang tính phổ biến nên Vô thường là một cuộc đại hóa, sự biến hóa cùng khắp, bất cứ ở đâu và lúc nào. Dù đức Phật có xuất hiện hay không thì ngọn lửa Vô thường vẫn cứ điềm nhiên âm ĩ thiêu đốt cả thế gian, không một phút tạm ngừng. Vì thế, đứng về mặt tục đế hữu hình hữu hoại thì hẳn nhiên Vô thường là chân lý bất di dịch.
Thân, tâm và cảnh giới là một dòng chảy (quá, hiện, vị lai). Chánh báo và y baó của một chúng sinh tạo thành dòng sông sinh mệnh, lực đẩy tạo thành dòng sông sinh mệnh chính là sự khát ái vào những sở thuộc như sự nghiệp tài sản, danh vọng nhằm củng cố cái Tôi (giả ngã) trong vòng luân hồi vô tận. Khi nào cái Tôi còn bén rễ, khi nào ý thức chấp ngã còn bén rễ, khi nào ý thức chấp ngã còn xen vào cuộc sống thì vòng luân hồi vẫn thường xoay chuyển.
Vô thường có ba:
- Nhất kỳ Vô thường - Tương tục Vô thường - Sát na sinh diệt Vô thường.
Nhất kỳ là thô tướng nhất của Vô thường, chỉ cho sự kết thúc của một tiến trình, như sự chết của một người, nhưng chết không có nghĩa là mất hẳn, mà chỉ là tạm vắng ở nơi này, để chuẩn bị biểu hiện thành sự sống ở nơi khác.
- Tương tục là sự sinh diệt, băng hoại thường xuyên trong lòng sự vật, là sự chuyển biến không ngừng, nên sự tương tục ấy là tể tướng của Vô thường.
- Sát na sinh diệt là sự vô thường ma mãnh nhất, nhỏ nhiệm nhất. Sát na là thuật ngữ nhà Phật hay sử dụng, chỉ cho đơn vị ngắn nhất của thời gian. Một niệm thoáng qua trong tâm thức có đến 90 sát na. Mỗi sát na là một tiểu niệm. Sự sinh diệt nhỏ nhiệm của mỗi sát na chỉ có Phật trí mới thấy được. Ba phạm trù thuộc ba phân loại Vô thường ở trên không chỉ có nơi các hiện tượng vật lý, mà thâu gồm luôn trong các hiện tượng sinh lý và tâm lý nữa.
Kinh Pháp Hoa, phẩm Thí Dụ. Phật dạy: "Chúng sanh bị chìm đắm trong vô số nạn khổ, thế mà không biết lại hoan hỷ vui chơi, chẳng kinh chẳng sợ, chẳng hề biết chán, chẳng chịu tầm cầu giải thoát. Ở trong nhà lửa tam giới cứ dong ruổi Đông Tây. Tuy gặp đại khổ mà chẳng biết đó là nguy khốn".
Phật nói Vô thường (nhà lửa) nhằm phá cái chấp thường của phàm phu, vì mê mờ điên đảo, vọng nhận các pháp là thực hữu, bèn đem cái tâm Vô thường, dùng cái thân Vô thường, nắm bắt các pháp Vô thường, cho đến mãn kiếp không bao giờ được thỏa mãn tâm vọng cầu. Người lớn hay sống về quá khứ, tuổi trẻ hay mơ mộng về tương lai, người tỉnh thức biết khéo sống nơi giây phút hiện tại. Mảnh đất lập thân của người phàm là quá khứ vị lai. Nơi an thân và lập mệnh của người tỉnh thức là hiện tại. Những kỷ niệm vui buồn quá khứ chỉ còn là những viễn ảnh mờ xa rơi rớt lại trong ký ức. Những dự hướng tương lại chưa đến chỉ là những bóng ma của hư tưởng. Một cuộc vui nào rồi cũng phải qua đi. Một nỗi buồn nào rồi cũng phải nhạt theo năm tháng. Cổ Đức có dạy: "Thời gian tợ tên bắn, ngày tháng như thoi đưa. Vô thường chóng qua mau, gắng gỗ chớ dần dà! Ngày tháng cứ thản nhiên trôi qua, mạng sống cũng theo đó dần dần đoạn giảm, như cá thiếu nước, nào có vui gì...".
(Quang âm tợ tiễn, nhựt nguyệt như toa, Vô thường tấn tốc, thiết mạc ta đà!. Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc...).
Trong một giây có đến 125 triệu tế bào chết đi, nhường chỗ cho 125 triệu tế bào khác sinh ra, trong ấy thực không thể tìm thấy cái Tôi. Theo đây, luật Vô thường bình đẳng đối với tất cả chúng sanh (5 uẩn), dầu là kẻ sang người hèn, kẻ ngu người trí. Quỷ Vô thường tuy không thấy hình dạng nhưng có khả năng làm mạng căn con người chết dần mòn. Sự nhận diện thường trực nơi tất cả mọi đổi thay chuyển dời của cuộc sống không phải để đi đến bi quan chán đời, mà là sự nhận diện cần thiết nhằm thực hiện sự chuyển hóa nơi tâm thức, vốn là sự mê lầm cố hữu đang đè nặng lên thân phận kiếp người, bình tâm mà nhận xét, vui thú thế gian tuy tạm bợ mong manh nhưng vẫn có hấp lực phi thường, hấp lực đó cũng chính là ma lực vô hình dẫn dắt chúng sanh trôi lăn theo sáu nẻo. Chúng sanh chịu khổ sanh tử không khác nào con tằm mùa Xuân kéo tơ làm kén tự trói buộc mình, cũng như con thiêu thân tự lao vào đèn chịu cái họa chết thiêu. Nếu như không đủ phước duyên gặp minh sư dẫn dắt thì làm sao tỏ ngộ được chánh pháp.
Cổ đức dạy: "Tuy sống một trăm năm như trong khoảng sát na, như lượn sóng rút về biển Đông, như ánh sáng còn sót lại của buổi chiều tà, như đánh đá nhà lửa, như ngựa câu thoáng qua khe cửa, như ngọn đèn trước gió, như giọt sương sớm mai trên đầu ngọn cỏ. Nếu không gặp được chánh pháp, ắt phải chịu vĩnh kiếp trầm luân!".
(Tuy niên bách tuế du nhược, sát na, như đông thệ chi trường ba, tợ tây thùy chi tàn chiếu, kích thạch chi tinh hỏa, sậu khích chi tấn câu, phong lý chi vi đăng, thảo đầu chi triêu lộ. Nhược bất ngộ ư chánh pháp, tất vĩnh đọa ư ư đồ hỷ!). Một tâm thức mê mờ quay cuồng trong cảnh sống say chết mộng thêu dệt nên hoàn cảnh sống, trong đó mình là tác giả. Thế nên kinh Hoa Nghiêm cho rằng tâm chính là một đại danh họa, họa ra thân năm uẩn và thế giới y báo:
"Tâm như người thợ vẽ
Vẽ mỗi mỗi ngũ uẩn
Trong tất cả thế giới
Đều do tâm tạo tác".
(Tâm như công họa sư
Hỏa chủng chủng ngũ uẩn
Nhất thiết thế giới trung
Giai do duy tâm tạo).
Vô thường thuộc yếu tố thời gian, là một diễn trình đi từ nhân đến quả. Diễn trình đó nơi chúng sanh hữu tình thì biểu hiện thành sinh, già, bệnh, chết; nơi các pháp thì có sinh, trụ, dị, diệt; nơi thế giới thì có thành, trụ, hoại, không. Sự thay đổi của bốn mùa, sự di chuyển của các hành tinh, vệ tinh cũng không ra ngoài quy luật của diễn trình đó. Thế giới vĩ mô, thế giới vi mô và thế giới trung bình cũng cùng một loại. Hễ có thành ắt có hoại, có hợp ắt có tan. Người quán thông lý Vô thường thì liền dừng, ấy là người tỉnh, người giác. Cái thực vĩnh cửu vốn vô hình vô tướng, còn cái hữu hình hữu tướng chỉ là giả tạm. Nhưng sự sống vĩnh hằng cũng không thể tìm ngoài cái Vô thường ảo mộng. Hãy bình thường trong mọi hoạt dụng của cuộc sống, và tìm cách giải thoát ngay trong cảnh bình thường đó. Xin thay lời kết thúc bằng đoạn thơ của Thiền sư Thanh Đàm, thuộc đời thứ 42, tông Tào Động, khoảng đầu thế kỷ thứ 19:
"Công danh cái thế màn sương sớm
Phú quý kinh nhân giấc mộng dài
Chẳng hiểu bản lai vô nhất vật
Công phu luống uổng một đời ai"


[Source - http://www.quangduc.com/coban/116vothuong-tth.html]

Võ Thanh Nga >> BỤI TRONG NẮNG


"Bụi trong nắng"
(1900) - Vilhelm Hammershøi
(Minh hoạ của viet-studies)
 
BỤI TRONG NẮNG
Tôi bước đi và ngoái lại
Trên vai tôi là bụi của nắng mặt trời tinh khiết…
 Võ Thanh Nga

Lời giới thiệu của Vũ Ngọc Tiến: Tôi đọc truyện này từ khi còn trong bản thảo (trước khi in trên báo Văn Nghệ Trẻ số 52 ngày 26/12/2009), do mẹ cháu gửi đến qua mail và đã bật khóc. Lớp trẻ 8x nhìn đất nước, suy ngẫm tương lai qua hình hài người cha mang căn bệnh ung thư mà cái chết như được báo trước bằng sự bòn rút của cải bên trong và bài thuốc lừa đảo bên ngoài. Tôi càng khóc vì tác giả sinh ra trong một gia tộc lừng danh, cả ông nội, ông ngoại đều là bậc nhất khai quốc công thần!... VNT

Tháng 4-5 năm 2009…
Tôi tốt nghiệp đại học. Không chuông kèn, không áo nón của những cử nhân. Trước đó, tôi tưởng mình sắp phát điên bởi cái căng thẳng khi làm luận án tốt nghiệp. Người ta làm luận án trong mấy tháng, tôi dồn nó vào mấy tuần. Luận án của tôi là phân tích một bộ phim siêu thực tên Donnie Darko, đưa những lý thuyết của nhà thuyết học Michel Foucault về sức mạnh tâm lý bên trong con người, nhận thức và vô thức trong điều khiển bản thân vào bộ phim ấy mà phân phân tích tích. Tôi hài lòng với cái đề tài đó, nhưng có lẽ tôi tự đánh giá quá cao sự cứng rắn của bản thân. Tôi bị chính cái đề tài luận án của mình ảnh hưởng đến tâm lý, nhìn thấy mình trong những lý thuyết sâu xa, tôi bắt đầu thả suy ngẫm, tự hỏi vào đó. Khi người ta đi vào quá sâu trong đầu của chính mình, người ta rất dễ bị kẹt luôn bên trong mà không ra ngoài được. Tôi sợ điều đó.
Khi tôi vừa hoàn thành luận án tốt nghiệp một cách tốt đẹp cũng là lúc tôi nghe tin ba tôi bị ung thư tụy. Tôi ngỡ ngàng, thậm chí không cảm nhận được cái cảm giác đầu tiên khi nghe điều đó từ mẹ. Tuy lâu nay tôi không gần gũi ba như mẹ, nhưng ông vẫn là ba tôi. Tôi sợ, khi đã rất lâu tôi thường không nghĩ về người, thì giờ tôi lại sắp mất người. Thiên hạ vẫn luôn nói, chỉ đến lúc ta sắp mất một cái gì ta đang có, ta mới thấy quý nó. Ở đây là một người ba mà đôi lúc tôi thậm chí vô tình quên mất. Tôi hoàn tất các môn còn lại rồi vội vã bay về nước. Trong đầu tôi còn quá nhiều thứ. Tôi về, và lần đầu gặp lại ba chỉ sau vài tháng từ hồi Noel, ba ốm đi hẳn. Mẹ buồn nhiều. Tôi biết giữa mẹ và ba là một thứ tình nghĩa chân thành dù đã ly dị nhau.  
Tháng 6 năm 2009…
Tôi chuyển sang nhà ba ở để tiện chăm sóc ba, vì mẹ tôi bận nhiều công việc, còn chị gái thì vướng bận gia đình, con cái. Ông trời có mắt, sắp đặt tôi không phải vướng bận gì, lại vừa tốt nghiệp đại học, không bị dở dang chuyện học hành. Thời gian đầu, ba tôi có vẻ ngại. Trước kia, ba gần như chỉ ở một mình, có ông bạn thân cùng nhà ở lầu trên nhưng cũng đi suốt. Ba bảo tôi muốn sang ở cũng được, nhưng cứ đi chơi, cứ ngủ thoải mái. Sau đó, ba cũng có vẻ vui lên, nhiệt tình trang trí cho phòng của tôi thật hoành tráng, lắp thật nhiều đèn. Phòng tôi trở thành căn phòng nhiều đèn nhất trong nhà, rộng rãi, không gian thoải mái để tôi lắp giá vẽ, để tranh, còn có cái TV to đùng. Tôi vui vì thấy ba vui, buồn vì thấy ba vẫn càng ngày càng tiều tụy. Mỗi khi có người sang thăm, ba đều khoe là con gái ba chuyển sang ở cùng để chăm sóc ba. Ba khen với mọi người rằng tôi giỏi, lanh lẹ.
Từ hồi chuyển sang nhà ba, tôi không ra ngoài nữa. Tôi không gọi bạn bè để tụ tập đi chơi như những lần trước về Việt Nam. Tôi ở nhà nhiều, chỉ ra đường khi cần mua gì cho ba. Hàng ngày nhìn ba chịu đựng đau đớn, nhìn mẹ và chị cứ lén lút khóc lóc, tâm lý cũng bị đè nén. Tâm trạng tôi khó chịu đi, hay căng thẳng. Ba lại càng ngày càng quen với chuyện tôi ở đây để chăm sóc, nên gọi thường xuyên, tôi lúc nào cũng phải trong tư thế sẵn sàng. Tính ba kỹ lưỡng, cẩn thận, lúc dễ lúc khó nhưng đòi hỏi khi cần gì là phải có ngay, có tốt. Tôi cô đơn và căng thẳng. Mà sự cô đơn dễ khiến người ta bi lụy. Tôi vẽ tranh như một phương pháp trị liệu tâm lý cho mình. Những bức tranh rướm máu, rồi đến những bức tranh nhẹ nhàng, thanh thản. Mẹ sang thăm tôi và ba hàng tối, nói thương tôi vì phải gánh trách nhiệm chăm ba cho cả nhà. Tôi không nói gì, tôi làm điều này một phần để trả hiếu cho ba, một phần lớn là cho mẹ. Tôi biết tôi đang làm mẹ tự hào, và điều đó là điều duy nhất khiến tâm lý tôi trụ vững.
Tôi là đứa yêu thích tự do, thích lang thang ngoài đường ngắm cuộc sống đi lại trên những đôi chân, lăn tròn trên những bánh xe. Thích ngồi quán cà phê nhìn cà phê nhỏ giọt, rồi ngẫm đời qua cái muỗng cà phê. Thích tụ tập bạn bè, hay chỉ đi dạo với một đứa bạn thân đâu đó. Nói chung, nếu thời tiết không phải là mùa đông, thì tôi không thích ở nhà. Có một con bạn của tôi, tên Dung, trước kia lớn lên với tôi trong cùng một ngôi nhà. Nó thương tôi lắm. Thời gian tôi ở nhà ba, nó nói thấy tôi trở nên khác hẳn. Trước kia suốt ngày lông nhông ngoài đường, bây giờ thì suốt ngày nhốt mình trong nhà. Tôi không dám đi đâu vì sợ mỗi lần ba tôi cần lại không có mặt. Mà vì tôi không thể đi chơi, nên mấy đứa bạn cũng chẳng thèm gọi tôi nữa. Chỉ có mỗi con Dung là qua lại thường xuyên để tôi đỡ cô đơn. Tính tình nó đơn giản, dễ thương, thật thà, chứ không phức tạp như những đứa bạn thân khác của tôi.
Thời gian này, tôi nhận ra một điều đáng giá. Có những bạn bè chỉ ở đó khi ta vui, khi ta đủ điều kiện để trả tiền ăn chơi, có thời gian để hưởng thụ niềm vui. Còn khi ta buồn bã, khóc lóc, thì phần lớn thời gian đó ta trải qua một mình. Dù vậy, tôi cũng không khỏi ngạc nhiên khi có những thằng bạn khác mà tôi từng nghĩ là không thân, thi thoảng lâu lâu mới gặp mặt đi ăn một lần, thì lại gọi điện hỏi thăm thường xuyên khi nghe tin ba tôi bị bệnh. Tôi biết ơn những người đó, vì họ cho tôi hiểu ra luôn có bất ngờ trong cuộc sống.
Ba tôi bệnh càng ngày càng nặng. Thời gian đầu, ba tôi đi Hà Nội chữa với một ông thầy được cho là giỏi về thuốc Nam, tìm được sâm ngọc linh gì đó. Ông ta nghe nói ba tôi là con của một ông lớn, hăng hái nhận chữa và bảo đảm sẽ hết bệnh. Khi tôi ghé thăm nhà ông ta, thấy bức hình đóng khung to đùng chụp ông ta bắt tay với ông nội tôi trong một lần được ba tôi đưa sang thăm, bên dưới có dòng chữ lớn chú thích rõ là ai. Tôi nhìn bức hình cười mỉa. Tôi không tin vào những ông thầy lang, lại càng không tin những ông mở miệng chắc chắn mình chữa được bệnh ung thư. Ông ta để râu dài bạc trắng nom cứ như Hoa Đà, Biển Thước tái thế! Ông tỏ ra rất thông thái. Cái điệu bộ của ông suýt nữa cũng gây ấn tượng với tôi, nhưng cái ý nghĩ về bức hình đóng khung khiến tôi cảnh giác. Thêm nữa là cái tài thuyết giảng của ông. Ông ngồi kể chuyện hành trình trên đường Trường Sơn, leo rừng lội suối tìm nhân sâm, bị người dân tộc bắt. Tôi, bà chị và ông anh rể nghệt mặt ra nghe. Rồi ông ngồi nói hùng hồn về sự khám phá cách chữa bệnh ung thư của ông, nhưng ông phải giữ bí mật vì sợ người ta tìm giết, sợ những người chế tạo ra máy móc hóa trị, xạ trị tìm xử bắn. Ông bảo nếu phương pháp chữa bệnh ung thư của ông truyền ra, bác sĩ, kỹ sư y học đều sẽ bị thất nghiệp, sẽ rất nguy hiểm cho ông. Khi tôi hỏi anh rể cũng là bác sĩ rằng ông đã chữa được ai chưa, anh rể tôi bảo ông chữa được một số bệnh nhân ung thư. Bao nhiêu thì không biết, chỉ biết có hôm ông được ba tôi mời vào Sài Gòn khám bệnh, ở khách sạn, có hai vệ sĩ võ công cao cường đi theo. Rồi không hiểu ai tung tin ông vào thành phố, mà bệnh nhân đến tạ ơn rầm rầm. Tôi nghe mà cười khùng khục. Khi nói chuyện, nghe bảo tôi học bên Anh về, ông hào hứng bàn chuyện chính trị với tôi, đố tôi giờ nước mình đang hòa bình hay chiến tranh. Ông ngồi kể chuyện lịch sử làu làu, thỉnh thoảng tôi còn để ý ông trộn thêm chuyện thần thoại vào lịch sử cho nó kịch tính. Ba tôi ban đầu nể ông lắm, bảo ông đầy kinh nghiệm, thông thái. Nhưng về sau, nhắc đến ông là ba lắc đầu. Ông thầy thông thái đó bán cho ba tôi một bọc sâm củ to củ nhỏ, củ tươi củ héo với giá mấy chục triệu, thêm hàng tá thuốc linh tinh khác. Mới đầu ông bảo chữa bệnh cho ba là chính, tiền là phụ, nhưng dĩ nhiên ông nói thêm là mấy cái này phải bán cho ba vì người như ba tôi mới trả nổi. Tôi nghe lại cười, nhưng lần này là cười buồn. Tội nghiệp ba tôi.
Ba tôi uống một đống thuốc của ông ta mỗi ngày. Bụng đầy thuốc, ăn uống không được. Hôm nôn mửa, hôm ôm bụng than đau, mà chẳng thấy khá hơn, chỉ xuống sắc. Ba tôi đành phải kiếm hướng khác. Về sau, ông thầy già ấy cũng tự im lặng rồi biến mất.
Ở với ba một thời gian, tôi thấy ba là con người nghị lực, nghị lực đến cứng đầu. Ba tin chắc mình sẽ khỏi, thế nên tìm hết thầy thuốc này đến thầy thuốc khác, uống hàng trăm thứ thuốc trên đời. Uống xong lại bảo những ông thầy này chỉ kinh doanh, muốn lấy tiền, lừa đảo, thuốc chả tác dụng. Tôi nhìn ba mà xót, nghe mà chẳng biết nói gì, chỉ biết lo cho ba ăn uống đầy đủ.  
Tháng 7-8 năm 2009…
Rồi một người bạn của ba tôi giới thiệu một mối chữa bệnh ở Trung Quốc. Người ta nói thuốc này mới được chế tạo, dùng thuốc bắc với công nghệ lên men, đang thử nghiệm. Nghe bảo chữa được mấy người ung thư phổi và dạ dày, hiệu quả lắm. Lúc nghe tin về mối đó, ba tôi đang nhịn đói. Nhịn đói để lọc chất độc và làm teo khối u. Đó là một trong hàng loạt phương pháp ba tôi nghe người ta mách, rồi làm theo. Ba nhịn đói được hai mươi mốt ngày, chỉ uống nước trái cây mà sống. Người ba gầy sọm đi, da vàng ủng dính sát vào xương. Người nào không gặp ba thường xuyên, nhìn thấy ba thì sốc. Khi đi kiểm tra lại, khối u chẳng nhỏ đi bao nhiêu, có chăng là teo đi một chút theo tỷ lệ cơ thể của ba. Thế nên khi nghe về phương thuốc mới bên Trung Quốc, ba tôi như người chết đuối vớ được phao.
Vậy là tôi với ba soạn đồ, khăn gói đi Quảng Châu, Trung Quốc. Lúc này ba vẫn đi lại được, dù hai bàn chân đã bắt đầu phù to. Tôi hơi lo lắng, bởi tôi không biết tiếng Trung, và tôi không biết mình có đủ sức một mình lo cho ba ở bên đó không. Chúng tôi sang, gặp một nhóm các ông Trung Quốc xì xồ xì xào cái thứ tiếng mà tôi không hiểu. Có một ông người Hoa nhưng từng sống ở Việt Nam, là người làm dịch vụ trung gian đồng thời là phiên dịch cho chúng tôi. Ông ta chỉ xuất hiện khi mấy ông thầy thuốc già đến để khám bệnh và đưa thuốc cho ba tôi. Toàn bộ thời gian còn lại, ba con tôi phải tự xoay sở. Thế là tôi dẫn ba đi ăn, rồi đi siêu thị mua đồ đạc cần dùng. Tôi ra sức huơ tay múa chân để họ hiểu tôi muốn gì, lắm lúc thấy mình như diễn viên kịch câm chuyên nghiệp.
Ở đấy hơn một tuần thì tôi nghe tin cuối tuần sau mẹ tôi sang và sẽ cùng về với hai ba con. Thế là tuần kế tiếp trôi qua nhẹ nhàng hơn. Tôi cũng đã dần quen với những gì cần làm bên này, quen với vài quán ăn gần khách sạn, và quen những kiểu múa tay chân cần thiết. Hai tuần, đến khi mẹ tôi qua, ba tôi đã không thể đi lại bình thường. Cẳng chân ba phù to lên đầu gối, mỗi đêm đều đau. Thậm chí có một hôm ba vấp té, đập mặt chảy máu răng. Tôi đỡ không kịp, sợ tái người. Trước khi về Việt Nam, người ta cho ba đi chụp cắt lớp và siêu âm để xem sau hai tuần uống thuốc kết quả thế nào. Mấy ông thầy thuốc Trung Quốc bảo thuốc này chỉ cần 14 ngày là người ta hết bệnh. Vào viện thử máu, mấy bà y tá xì xồ tiếng Trung với chúng tôi, rồi chích ba tôi cả chục lần trong cả tiếng mới lấy được tí máu để xét nghiệm. Vậy mà chụp chụp chích chích xong rồi, người ta không dám đưa kết quả cho chúng tôi xem, chỉ vỏn vẹn bảo kết quả thấy khá lên. Ba tôi nghe thì mừng lắm. Còn tôi thì không tin.
Ba tôi đem một đống thuốc về uống. Ba bảo bọn này không phải kinh doanh, bởi họ cho ba thuốc miễn phí và ghi ba vào danh sách thử nghiệm. Họ chỉ lấy tiền khách sạn và tiền đưa đón mấy ông thầy thuốc. Họ muốn chữa hết cho mình để quảng bá thuốc tại Việt Nam. Tôi im lặng, không nói gì, hàng ngày vẫn lấy thuốc đều đặn như ba muốn. Thuốc ba uống của Trung Quốc là dạng men, như uống dấm mỗi ngày. Hôm nào ba ăn được thì không đến nỗi, hôm nào ăn ít thì nó cào ruột, đau hơn bình thường. Ba luôn miệng nói phải quyết tâm theo tới cùng, rồi chắc chắn qua mùa thu ba sẽ khỏi. Một ông bạn thầy bói phong thủy của ba bảo thế. Tôi lại im lặng, mỉm cười không nói gì.  
Tháng 9 năm 2009…
Chỉ một hai tuần sau khi trở về từ Trung Quốc, ba tôi gần như không thể đi lại được nữa. Chân ba phù to, da mỏng tang, vàng khè. Có một vết rộp ở chân do ba đắp đồ chườm nóng, rồi từ cái vết đó, nước dịch vàng ứ trong chân ba chảy ra. Mọi người bảo ba phải rắc thuốc hay bôi kem cho nó lành, nhưng ba muốn để tự nhiên nó hết. Thế là ngày này qua ngày khác, dịch vàng chảy òng ọc ra khỏi cái lỗ đó ở chân ba. Nó không lành. Ngày nào tôi cũng lấy khăn chậm cho ba năm đến sáu lần, nước chảy đọng trong dép, dính trên quần, lên giường gối. Ướt nhẹp, bốc mùi. Ba mất dần cảm giác. Có vài lần, ba tôi nhìn đống nước vàng trên sàn nhà, hỏi cái gì thế. Tôi ấp úng, rồi bảo nước chảy ra từ chân ba đấy. Ba lặng lẽ nhìn, hỏi lại thế à, rồi không nói gì nữa.
Từ từ, bụng ba bắt đầu trương phình lên. Ba ăn không nhiều, miệng lạc cảm giác, ăn lúc kêu mặn lúc kêu đắng. Nước sôi bốc khói ba tu ừng ực như không. Mỗi khi đau, ba không bao giờ than, chỉ bực dọc, khó tính hơn. Thỉnh thoảng tôi hỏi ba có đau không, ba bảo ba hết hẳn đau rồi, rằng thuốc có tác dụng đấy. Không hiểu sao tôi không hề vui khi nghe câu đó. Tôi nhìn thấy rõ tình trạng của ba từng ngày. Từ hồi đi Trung Quốc về, sức khỏe ba xuống dốc từng tuần, rồi sau đó là từng ngày. Tôi không dám rời ba nửa bước. Càng về sau, ba càng té nhiều, trong phòng ngủ, trong nhà tắm. Mẹ tôi mua cho ba mấy cây gậy để chống, rồi đủ loại ghế để ba ngồi mà không phải gập bụng. 
Theo kế hoạch là từ Trung Quốc về, chúng tôi ở nhà cho ba tôi uống thuốc 20 ngày rồi lại phải sang kiểm tra lần nữa. Hai mươi ngày trôi qua trong chớp mắt. Tôi nơm nớp lo sợ cái ngày phải trở lại Quảng Châu. Tôi sợ lần này tôi không đủ sức lo cho ba và đỡ ba, bởi ba yếu hẳn và không thể đi lại được nữa. Thời gian này, tôi thường xuyên phải đỡ ba vào nhà vệ sinh, đỡ ba lên giường. Toàn thân ba cứng đờ đi, tay không có lực, mặt không khác gì cái sọ với lớp da vừa vàng vừa thâm, còn chân và bụng thì ngày càng ứ dịch phình to. Tôi căng thẳng những lúc ba té. Dù thể trạng tiều tụy, nhưng đầu óc ba tôi tỉnh táo kinh hồn. Đôi lúc tôi tự hỏi cái nào đỡ hơn, chịu đựng sự tra tấn thể xác nhưng vẫn tỉnh táo như ba, hay thà là mê man lú lẫn. Có những lúc ba ngồi thừ trên ghế nhìn ra cửa sổ, mắt suy tư buồn bã, hay có những lúc mặt hiện lên vẻ tính toán. Tôi không hiểu những lúc đó ba nghĩ gì, tính gì.
Có lần, ba đứng trước cửa sổ đung đưa tay lên xuống, bài tập thể dục mà ba tôi vẫn làm hàng ngày. Tôi ngồi trong bếp, nhìn bóng phản chiếu của ba qua cánh cửa kính nhà bếp, một bóng người gầy còm đang quạt tay trước một cái cửa sổ có song, bên ngoài lá cây đập vào nhau khi gió thổi. Lúc đó, hình ảnh của ba y hệt một con chim với cái cánh trụi lông và thân mình đầy xương, đang cố đập cánh thoát khỏi những song sắt của cửa sổ, hay một cái lồng. Cho đến bây giờ, tôi vẫn không quên được hình ảnh đó.
Một sự giải thoát xa xỉ. Một sự giải thoát mà người bị giam không mong muốn có.
Đêm trước hôm bay đi Trung Quốc, ba cẩn thận dặn tôi kiểm tra lại đồ đạc tôi đã soạn cho ba kỹ lưỡng. Rồi trước khi đi ngủ, ba uống một viên thuốc giảm đau và một viên thuốc ngủ, vì ba muốn ngủ yên để hôm sau dậy sớm, đủ khỏe để đi máy bay. Ba cẩn thận quá. Kết quả là, không hiểu do ông trời sắp đặt, hay do sự cẩn thận của ba phản lại ba, đến buổi sáng ba tôi mê man, gọi mãi không dậy được. Một lúc sau, ba dậy nhưng vẫn nửa mê nửa tỉnh, tôi đỡ ba vào nhà tắm, vào được bên trong, tôi vừa buông tay thì ba ngã đập mặt xuống. Tôi sợ phát khóc. Tôi không đỡ nổi ba nữa, anh rể tôi phải đỡ ba vào phòng. Ba ngồi trên giường, mắt mở không lên. Tôi và mẹ khuyên ba nên hoãn chuyến này lại. Ba mở mắt, lắc đầu nguầy nguậy, bảo nhất định phải đi. Chúng tôi chiều ba. Chú lái xe gần như khiêng ba xuống xe hơi. Ngồi trong xe, ba nhìn mọi người mỉm cười, yếu ớt bảo, lần này đi sẽ vui vì có cả nhà đi cùng. Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, không ai dám nói một lời. Xe hơi lăn bánh ra sân bay. Ba mê man hẳn.
Đến sân bay, tôi chạy vào gọi dịch vụ xe lăn đã đặt. Theo nguyên tắc bác sĩ của sân bay đến khám cho ba trước. Khi đẩy ba trên xe lăn vào, ba vẫn không biết gì. Ông bác sĩ nhìn ái ngại, đo huyết áp, nhịp mạch, rồi lắc đầu bảo không bay được. Ba bị hạ đường huyết quá thấp. Chúng tôi đành phải đưa ba đi cấp cứu. Ai cũng tưởng ba tôi đã đi vào hôn mê do gan tổn thương, mà hôn mê gan thì không tỉnh lại nữa. Đến khi xe cấp cứu tới, ông bác sĩ gọi to tên ba, ba tôi lại giật mình thức dậy. Ai cũng mừng. Tôi đi theo ba lên xe cấp cứu. Thi thoảng ba mở mắt hỏi đến sân bay chưa, hay tới Trung Quốc chưa, hay đang đi đâu, rồi lại mê.
Ngày đầu nằm trong phòng hồi sức của bệnh viện, ban ngày ba mê man, đến ban đêm ba lại tỉnh. Khổ nỗi ban đêm người ta không cho người nhà bệnh nhân vào. Tôi về nhà mà trong lòng không yên. Hôm sau tôi vào, y tá bảo chưa đến giờ cho người thăm bệnh, nhưng sẽ ngoại lệ cho tôi vào với ba, vì cả đêm và cả buổi sáng ông cứ gọi và đòi tôi mãi. Tôi vào thì thấy ba mở mắt thao láo, vừa thấy tôi ông đã thốt lên rằng tôi đi đâu, ông gọi mãi mà không trả lời, rằng mấy cô y tá làm ông đau lắm, mà hỏi gì cũng không trả lời. Ba tôi ứa nước mắt, bảo tôi phải ở lại đây, không được rời ba, bảo rằng có tôi thì ba mới yên tâm được. Tôi cố kìm khóc, giải thích là người ta không cho vào, rồi hứa với ba sẽ ở đây luôn, không đi đâu nữa.
Người ta chuyển ba xuống khu khác để người thân có thể ở cùng qua đêm, nhưng lại phải chung phòng với một bệnh nhân khác. Ba luôn miệng đòi ra viện. Mẹ tôi bàn chuyển ba ra bệnh viện tư để có phòng riêng thoải mái. Bác sĩ đã đưa kết quả, bảo không còn hy vọng gì nữa, có giữ trong bệnh viện cũng chỉ là hỗ trợ thêm. Tình trạng của ba là tính theo ngày theo giờ, chứ không còn tính theo tháng nữa. Mật tắc và tràn ra máu, u to, thận và gan biến chứng. Tôi ngồi nghe, mặt thộn ra, chẳng tỏ vẻ gì. Tôi đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi cũng chẳng muốn nghe những khẳng định đó. Tôi đi theo ba sang bệnh viện tư, phòng ở rộng rãi thoải mái hơn nhiều. Ba hài lòng hơn. Mọi người đề nghị thay phiên nhau chăm ba, nhưng ba chỉ muốn tôi và anh rể ở lại, vì ba quen tôi chăm sóc, còn anh rể đỡ ba vào nhà vệ sinh.
Trong vài ngày sau đó, tôi sống luôn trong bệnh viện, nhìn ba nằm bất động trên giường, lúc mê lúc tỉnh. Ba tôi bảo bây giờ nhìn ai cũng hai đầu. Khi mê, ba nằm ngủ mở miệng mở mắt. Khi tỉnh thì ba nằm đó chớp mắt, mặt chán đời nhưng vẫn cố ăn. Có hôm giữa đêm, ba cố ngồi dậy, tôi chạy ra đỡ thì ba xua tay, bảo ba muốn tập tự đi, để sớm ra viện. Nhưng đến ngồi thẳng dậy ba cũng không ngồi nổi. Ba nghị lực đến mức ba chối bỏ cái đau, chối bỏ sự yếu sức của mình, chối bỏ những điều có thể xảy ra. Yếu vậy mà đầu ba vẫn sáng và nhớ mọi thứ, những khi ba tỉnh, ai đến thăm hỏi ba đều nhớ, không lú lẫn. Ung thư là căn bệnh độc ác, nó rút mòn và hành hạ thể xác nạn nhân, nhưng lại giữ đầu óc họ tỉnh táo để cảm nhận rõ những nỗi đau đó.
Ba ngày sau khi ba tôi chuyển sang bệnh viện tư, vào ban đêm, ba tôi tỉnh dậy, trợn trừng mắt, đưa tay xoa bụng mà không nói gì. Mới ngày hôm đó, ông vẫn nói chuyện bình thường. Tôi hỏi ông có đau không, nhưng ba tôi không trả lời, chỉ liên tục trừng mắt, đầu quay qua quay lại rồi đưa tay xoa bụng. Tôi chạy đi gọi bác sĩ, bác sĩ đến khám rồi cho ông một viên thuốc giảm đau, im lặng đi ra. Tôi cho ba uống, tôi biết ba tỉnh bên trong bởi ba vẫn uống được thuốc. Nhưng mỗi khi tôi hỏi, ông không thể trả lời, chỉ mở to mắt nhìn tôi. Cho ba uống thuốc xong, tôi tắt đèn và ra giường nằm. Ba lại quay nghiêng đầu, nhìn thẳng vào tôi với đôi mắt muốn nói nhiều thứ. Đôi mắt ấy chưa bao giờ rời khỏi ký ức tôi. Tôi lại bật dậy, mở đèn ra hỏi ba có muốn gì không. Nhưng vẫn thế, ba chỉ mở to mắt nhìn tôi chằm chặp, miệng há ra mà lời không thoát. Rồi từ từ, ba mê dần. Sáng hôm sau, ba tôi đi.
Đó là một ngày cuối tháng 9.
Kết thúc một tháng. Kết thúc một cuộc đời. Kết thúc một hy vọng.
Với tôi, nó là kết thúc một chặng đường. 
Tháng 10 năm 2009…
Ba tôi mất rồi, mọi người lục tìm lại giấy tờ thì phát hiện một bí mật mà ba tôi giấu suốt bao năm nay. Đó là sự tồn tại của một đứa bé tám tuổi trong cuộc đời của ba. Không ai trong gia đình tôi, từ ông bác là anh trai của ba tôi, đến những người thân cận của ba như lái xe, giúp việc, đều chẳng hề biết gì về đứa bé này. Mẹ tôi tìm được địa chỉ, báo tin cho họ rằng ba tôi mất, ngỏ thiện ý mời họ đến đám tang. Hỏi chuyện ra thì mẹ thằng bé đang trong trại giam vì nghiện ma túy từ hai năm nay. Ba tôi đón thằng bé và bà ngoại nó từ Hải Phòng vào thành phố để nuôi. Cứ mỗi cuối tuần, ba cho tất cả các nhân viên nghỉ, ngay cả người giúp việc, để đến thăm và dẫn thằng bé đi chơi. Trong một cái cặp của ba, tôi tìm thấy những lá thư của người mẹ thằng bé, viết cho ba những lời ướt át, tình cảm nhưng cuối cùng cái ý chung lại là để đòi tiền. Đa số các bức thư đều đem thằng bé ra, lấy lý do tội nghiệp nó mà cứu lấy mẹ nó. Mỗi lần, cô ta xin từ hàng chục đến trăm triệu, trong mỗi lá thư đều nói rằng đây sẽ là lần cuối cô ta xin tiền ba tôi. Tôi còn tìm thấy một tờ giấy từ con viết bằng tay, bảo rằng xin trả lại thằng bé cho ba tôi và để bà ngoại nó nuôi, bởi cô ta không thể rũ bỏ chất bẩn. Trong tờ giấy đó, cô ta viết hãy bảo thằng bé rằng cô ta đã chết vì không thể làm một người mẹ tốt, rồi xin ba tôi mười triệu đồng lần cuối.
Nhiều người nghe chuyện, gọi cho tôi và mẹ tôi bảo rằng phải làm rõ ràng, gia đình ấy đã làm tiền ba tôi bao lâu nay, làm cho ba căng thẳng rồi sinh bệnh. Có người nói bọn họ không phải người đàng hoàng mà là dân lừa đảo. Mẹ tôi lại bảo, có lẽ những năm sau này, thằng bé là niềm vui của ba. Tôi chỉ xót xa một điều, rằng lâu nay ba sống với những nỗi niềm và gánh nặng ấy giấu kín. Ba tôi là người rất sĩ diện, lại rất cẩn thận trong mọi chuyện giao tiếp, tuy ba luôn là người hiền lành, thương người. Tôi biết ba sợ người ta đánh giá, bởi người mẹ thằng bé rất trẻ, chỉ lớn hơn chị tôi một hai tuổi, lại là một người nghiện. Thêm nữa, lúc thằng bé sinh ra, ba mẹ tôi vẫn chưa ly dị. Vì thế, đến những người thân nhất ba cũng không hé miệng một lời. Khi tôi gặp thằng bé, nó rất kháu khỉnh, dễ thương, nhưng nó không giống ba tôi. Mẹ tôi và mọi người đều bảo không cảm thấy thằng bé có mối liên hệ ruột thịt với ba. Thằng bé đến dự lễ tang với bà ngoại và dì của nó, họ đến khóc lóc và kể đủ chuyện cho chúng tôi nghe, rằng ba thương và chăm sóc thằng bé nhiều đến thế nào. Còn thằng bé thì nhảy loanh quanh chụp hình quan tài của ba tôi. Lúc di quan, nó vừa chạy theo sau vừa nhảy chân sáo và hát. Tôi thầm nghĩ, nó mới 8 tuổi, liệu nó có nhận ra ba trong chiếc quan tài đó, dù khi hỏi nó gật đầu?
Về sau, vì thủ tục pháp lý, chúng tôi dẫn thằng bé đi thử ADN để kiểm chứng xem nó có phải con ruột của ba tôi không. Kết quả, nó không mang cùng dòng máu với ba tôi. Chúng tôi thở dài. Vậy là lâu nay ba còng lưng nuôi con người khác, lại phải ra sức giấu giếm để cuộc sống nặng nề thêm. Bà ngoại thằng bé bảo, từ hồi tôi chuyển sang ở cùng để chăm sóc ba, ba tôi cấm tiệt thằng bé liên lạc với ba vì sợ tôi biết. Tôi nghe mà chạnh lòng. Cho đến những ngày cuối, dù sức yếu nhưng ba vẫn không hề dặn dò gì tôi. Ba cẩn thận, chu đáo, kỹ lưỡng cả đời, để rồi đến lúc cuối lại chẳng một lời. Khi chết đi thì những gì ba tôi cố công giấu kỹ lại vỡ ra và tràn vào thiên hạ như ong vỡ tổ. Ồn ào. Lạc hướng.
Niềm tin là một thứ có sức mạnh khiến người ta vượt qua nhiều thứ. Nhưng rồi nó cũng có sức mạnh hủy diệt nhiều thứ. Nó là sản phẩm của thiên thần, mà cũng là đứa con của quỷ dữ.
Hy vọng cũng vậy.
Chặng đường tôi đi cùng ba chỉ có vài tháng, nhưng nó thay đổi tôi đáng kể. Nó thêm vào 21 năm ngắn ngủi của tôi một đoạn phim thể loại siêu thực.
Có những thứ qua đi như một giấc mơ đầy mộng mị, có những thứ ở lại như những ký ức giăng tơ.
Điều kỳ lạ ở những sự kiện trong đời là có những thứ xảy ra trong nhiều năm có thể tóm gọn vào vài dòng chữ. Lại có những điều chỉ diễn ra trong vài tháng thì phải trải dài ra những trang giấy.
Một ngày đẹp trời, tôi mang tro của ba tôi ra biển, mượn thuyền của một người quen ra giữa biển để rải. Tro bay ra gió rồi rơi xuống nước. Trong túi tro đó có hai loại tro, một loại màu đen nổi lềnh bềnh trên mặt nước, còn một loại màu trắng lấp lánh dưới ánh nắng trong nước rồi từ từ chìm xuống. Tro màu trắng là phần cốt vụn của ba tôi, trừ những cốt lớn được bỏ vào hũ đá hoa cương đặt ở nghĩa trang thành phố. Lúc ngồi trên thuyền, tay nắm những vốc tro bụi từng một thời là cơ thể của ba tôi, một thời là con người biết thở, biết nghĩ, biết sống mấy chục năm, tôi cảm một xúc cảm lạ lẫm. Mọi thứ là phù du, vô nghĩa khi con người trở về với cát bụi. Đám tro trắng lấp lánh trong nước trước khi chìm xuống ấy như đám bụi của bà tiên, thần kỳ và ma mị. Cuối cùng thì những nỗi niềm bị giấu kín, những bí mật của ba tôi cũng thành tro cát cùng ba.
Tro bay. Có cái gì đó trong tôi cũng bay đi.
Tôi quay về nhà, quay lưng với biển rộng thênh thang giờ đang ôm một phần của ba tôi trong lòng.
Tôi quay về với mẹ tôi, quay về như chưa từng ra đi. Ở lại như chưa từng ở xa. Tĩnh như chưa từng động.
Tôi quay về để bắt đầu một chặng đường mới của tôi.
Tp Hồ Chí Minh mùa đông 2009
VTN

[Source - http://www.viet-studies.info/VoThanhNga_BuiTrongNang.htm]

Creativity Tools >> Generating many radical ideas - Brainstorming and Reverse Brainstorming

1 - Brainstorming

Generating many radical, creative ideas

Brainstorming is a popular tool that helps you generate creative solutions to a problem.
Spacer Spacer
  
 

It is particularly useful when you want to break out of stale, established patterns of thinking, so that you can develop new ways of looking at things. It also helps you overcome many of the issues that can make group problem-solving a sterile and unsatisfactory process.
Used with your team, it helps you bring the diverse experience of all team members into play during problem solving. This increases the richness of ideas explored, meaning that you can find better solutions to the problems you face.
It can also help you get buy in from team members for the solution chosen – after all, they were involved in developing it. What’s more, because brainstorming is fun, it helps team members bond with one-another as they solve problems in a positive, rewarding environment.
Why Use Brainstorming?
Conventional group problem-solving can be fraught with problems. Confident, "big-ego" participants can drown out and intimidate quieter group members. Less confident participants can be too scared of ridicule to share their ideas freely. Others may feel pressurized to conform with the group view, or are held back by an excessive respect for authority. As such, group problem-solving is often ineffective and sterile.

By contrast, brainstorming provides a freewheeling environment in which everyone is encouraged to participate. Quirky ideas are welcomed, and many of the issues of group problem-solving are overcome. All participants are asked to contribute fully and fairly, liberating people to develop a rich array of creative solutions to the problems they're facing.
“Brainstorming 2.0”
The original approach to brainstorming was developed by Madison Avenue advertising executive, Alex Osborn, in the 1950s. Since then, many researchers have explored the technique, and have identified issues with it.

The steps described here seek to take account of this research, meaning that the approach described below differs subtly from Osborn's original one.

What Is Brainstorming?

Brainstorming combines a relaxed, informal approach to problem-solving with lateral thinking. It asks that people come up with ideas and thoughts that can at first seem to be a bit crazy. The idea here is that some of these ideas can be crafted into original, creative solutions to the problem you're trying to solve, while others can spark still more ideas. This approach aims to get people unstuck, by "jolting" them out of their normal ways of thinking.
During brainstorming sessions there should therefore be no criticism of ideas: You are trying to open up possibilities and break down wrong assumptions about the limits of the problem. Judgments and analysis at this stage stunt idea generation.
Ideas should only be evaluated at the end of the brainstorming session – this is the time to explore solutions further using conventional approaches.

Individual Brainstorming

While group brainstorming is often more effective at generating ideas than normal group problem-solving, study after study has shown that when individuals brainstorm on their own, they come up with more ideas (and often better quality ideas) than groups of people who brainstorm together.
Partly this occurs because, in groups, people aren’t always strict in following the rules of brainstorming, and bad group behaviors creep in. Mostly, though, this occurs because people are paying so much attention to other people’s ideas that they're not generating ideas of their own – or they're forgetting these ideas while they wait for their turn to speak. This is called "blocking".
When you brainstorm on your own, you'll tend to produce a wider range of ideas than with group brainstorming – you do not have to worry about other people's egos or opinions, and can therefore be more freely creative. For example, you might find that an idea you’d be hesitant to bring up in a group session develops into something quite special when you explore it with individual brainstorming. Nor do you have to wait for others to stop speaking before you contribute your own ideas.
You may not, however, develop ideas as fully when you brainstorm on your own, as you do not have the wider experience of other members of a group to help you.
Tip:
When Brainstorming on your own, consider using Mind Maps to arrange and develop ideas.

Group Brainstorming

When it works, group brainstorming can be very effective for bringing the full experience and creativity of all members of the group to bear on an issue. When individual group members get stuck with an idea, another member's creativity and experience can take the idea to the next stage. Group brainstorming can therefore develop ideas in more depth than individual brainstorming.
Another advantage of group brainstorming is that it helps everyone involved to feel that they’ve contributed to the end solution, and it reminds people that other people have creative ideas to offer. What’s more, brainstorming is fun, and it can be great for team-building!
Brainstorming in a group can be risky for individuals. Valuable but strange suggestions may appear stupid at first sight. Because of this, you need to chair sessions tightly so that ideas are not crushed, and so that the usual issues with group problem-solving don’t stifle creativity.

How to Use the Tool:

You can often get the best results by combining individual and group brainstorming, and by managing the process carefully and according to the "rules" below. That way, you get people to focus on the issue without interruption (this comes from having everyone in a dedicated group meeting), you maximize the number of ideas you can generate, and you get that great feeling of team bonding that comes with a well-run brainstorming session!
To run a group brainstorming session effectively, do the following:
  • Find a comfortable meeting environment, and set it up ready for the session.
  • Appoint one person to record the ideas that come from the session. These should be noted in a format than everyone can see and refer to. Depending on the approach you want to use, you may want to record ideas on flip charts, whiteboards, or computers with data projectors.
  • If people aren’t already used to working together, consider using an appropriate warm-up exercise or ice-breaker.
  • Define the problem you want solved clearly, and lay out any criteria to be met. Make it clear that that the objective of the meeting is to generate as many ideas as possible.
  • Give people plenty of time on their own at the start of the session to generate as many ideas as possible.
  • Ask people to give their ideas, making sure that you give everyone a fair opportunity to contribute.
  • Encourage people to develop other people's ideas, or to use other ideas to create new ones.
  • Encourage an enthusiastic, uncritical attitude among members of the group. Try to get everyone to contribute and develop ideas, including the quietest members of the group.
  • Ensure that no one criticizes or evaluates ideas during the session. Criticism introduces an element of risk for group members when putting forward an idea. This stifles creativity and cripples the free running nature of a good brainstorming session.
  • Let people have fun brainstorming. Encourage them to come up with as many ideas as possible, from solidly practical ones to wildly impractical ones. Welcome creativity!
  • Ensure that no train of thought is followed for too long. Make sure that you generate a sufficient number of different ideas, as well as exploring individual ideas in detail.
  • In a long session, take plenty of breaks so that people can continue to concentrate.
 

Taking Your Brainstorming Further...

If you're still not getting the ideas you want, try using these approaches to increase the number of ideas that you generate:
The Stepladder Technique – This improves the contribution of quieter members of the group.
Brainwriting
– A written approach to brainstorming.
The Crawford's Slip Approach
– This helps you get plenty of ideas from all participants in your session, and gives you a view of the popularity of each idea.
The techniques below help you in specific brainstorming situations:
Reverse Brainstorming – This is useful for improving a product or service.
Starbursting
– Brainstorm the questions you need to ask to evaluate a proposal.
Charette Procedure
– This procedure helps you brainstorm effectively with large groups of people.
Where possible, participants in the brainstorming process should come from as wide a range of disciplines as possible. This brings a broad range of experience to the session and helps to make it more creative. However, don’t make the group too big – as with other types of teamwork, groups of between 5 and 7 people are often most effective.

Key Points:

Brainstorming is a useful way of generating radical solutions to problems, just as long as it's managed well. During the brainstorming process there is no criticism of ideas, and free rein is given to people's creativity (criticism and judgment cramp creativity.)
This tends to make group brainstorming sessions enjoyable experiences, which are great for bringing team members together. Using brainstorming also helps people commit to solutions, because they have participated in the development of these solutions.
The best approach to brainstorming combines individual and group brainstorming. Group brainstorming needs formal rules for it to work smoothly.
















2 - Reverse Brainstorming

A different approach to brainstorming
Related variant: "Negative Brainstorming"

Reverse brainstorming helps you solve problems by combining brainstorming and reversal techniques. By combining these, you can extend your use of brainstorming to draw out even more creative ideas.
To use this technique, you start with one of two "reverse" questions:

Instead of asking, "How do I solve or prevent this problem?" ask, "How could I possibly cause the problem?"


Instead of asking "How do I achieve these results?" ask,"How could I possibly achieve the opposite effect?"

How to Use the Tool:

  1. Clearly identify the problem or challenge, and write it down.
  2. Reverse the problem or challenge by asking:
    "How could I possibly cause the problem?", or
    "How could I possibly achieve the opposite effect?"
  3. Brainstorm the reverse problem to generate reverse solution ideas. Allow the brainstorm ideas to flow freely. Do not reject anything at this stage.
  4. Once you have brainstormed all the ideas to solve the reverse problem, now reverse these into solution ideas for the original problem or challenge.
  5. Evaluate these solution ideas. Can you see a potential solution? Can you see attributes of a potential solution?
Tip:
Reverse brain-storming is a good technique to try when it is difficult to identify solutions to the problem directly.
Example:
Luciana is the manager of a health clinic and she has the task of improving patient satisfaction.

There have been various improvement initiatives in the past and the team members have become rather skeptical about another meeting on the subject. The team is overworked, team members are "trying their best" and there is no appetite to "waste time" talking about this.


So she decides to use some creative problem solving techniques she has learned. This, she hopes, will make the team meeting more interesting and engage people in a new way.


Perhaps it will reveal something more than the usual "good ideas" that no one has time to act on.


To prepare for the team meeting, Luciana thinks carefully about the problem and writes down the problem statement:
  • "How do we improve patient satisfaction?"
Then she reverses problem statement:
  • "How do we make patients more dissatisfied?"
Already she starts to see how the new angle could reveal some surprising results.

At the team meeting, everyone gets involved in an enjoyable and productive reverse brainstorming session. They draw on both their work experience with patients and also their personal experience of being patients and customers of other organizations. Luciana helps ideas flow freely, ensuring people to not pass judgment on even the most unlikely suggestions.


Here are just a few of the "reverse" ideas:
  • Double book appointments.
  • Remove the chairs from the waiting room.
  • Put patients who phone on hold (and forget about them).
  • Have patients wait outside in the car park.
  • Discuss patient's problems in public.
 

More Brainstorming Tools

As an alternative to reverse brainstorming, these approaches can help you find suitable solutions by increasing the number of ideas that you generate:
The Stepladder Technique – This improves the contribution of quieter members of the group.
Brainwriting
– A written approach to brainstorming.
The Crawford's Slip Approach
– This helps you get plenty of ideas from all participants in your session, and gives you a view of the popularity of each idea.
The techniques below help you in specific brainstorming situations:
Starbursting – Brainstorm the questions you need to ask to evaluate a proposal.
Charette Procedure
– This procedure helps you brainstorm effectively with large groups of people.
When the brainstorming session runs dry, the team has a long list of the "reverse" solutions. Now it's time to look at each one in reverse into a potential solution. Well, resulting discussions are quite revealing. For example:
"Well of course we don't leave patients outside in the car park – we already don't do that."
"But what about in the morning, there are often patients waiting outside until opening time?"
"Mmm, true. Pretty annoying for people on first appointments."
"So why don't we open the waiting room 10 minutes earlier so it doesn't happen?"
"Right, we'll do that from tomorrow. There are several members of staff working already, so it's no problem".
And so it went on. The reverse brainstorming session revealed tens of improvement ideas that the team could implement swiftly and easily.

Luciana concluded: "It was enlightening and fun to looking at the problem in reverse. The amazing thing is, it's helped us become more patient-friendly by stopping doing things rather than creating more work".

Key Points:

Reverse brain-storming is a good technique for creative problem solving, and can lead to robust solutions. Be sure to follow the basic rules of brainstorming to explore possible solutions to the full.

Creativity Tools >> Attribute Listing, Morphological Analysis and Matrix Analysis

Creating new products and services

Attribute Listing - Liệt kê thuộc tính
Morphological Analysis - Phân tích hình thái and 
Matrix Analysis - Phân tích ma trận

are good techniques for finding new combinations of products or services. They are sufficiently similar to be discussed together. We use Attribute Listing and Morphological Analysis to generate new products and services.

How to Use the Tools:

To use the techniques,  
firstly list the attributes of the product, service or strategy you are examining. Attributes are parts, properties, qualities or design elements of the thing being looked at. For example, attributes of a pencil would be shaft material, lead material, hardness of lead, width of lead, quality, color, weight, price, and so on. A television plot would have attributes such as characters, actions, locations, and weather. For a marketing strategy you might use attributes such as of markets open to you, uses of the product, and skills you have available.
Draw up a table using these attributes as column headings. Write down as many variations of the attribute as possible within these columns. This might be an exercise that benefits from Brainstorming. The table should now show all possible variations of each attribute.

Now select one entry from each column. Either do this randomly or select interesting combinations. By mixing one item from each column, you will create a new mixture of components. This is a new product, service or strategy.

Finally, evaluate and improve that mixture to see if you can imagine a profitable market for it.

Example:

Imagine that you want to create a new lamp. The starting point for this might be to carry out a morphological analysis. Properties of a lamp might be power supply, bulb type, light intensity, size, style, finish, material, shade, and so on.
You can set these out as column headings on a table, and then brainstorm variations. This table is sometimes known as a "Morphological Box" or "Zwicky Box" after the scientist Fritz Zwicky, who developed the technique in the 1960s.
Attribute Listing Matrix
  Drawn using SmartDraw. Click for free download.

Interesting combinations might be:

  • Solar powered/battery, medium intensity, daylight bulb - possibly used in clothes shops to allow customers to see the true color of clothes.
  • Large hand cranked arc lights - used in developing countries, or far from a mains power supply
  • A ceramic oil lamp in Roman style - used in themed restaurants, resurrecting the olive oil lamps of 2000 years ago
  • A normal table lamp designed to be painted, wallpapered or covered in fabric so that it matches the style of a room perfectly
Some of these might be practical, novel ideas for the lighting manufacturer. Some might not. This is where the manufacturer's experience and market knowledge are important.

Key points:

Morphological Analysis, Matrix Analysis and Attribute Listing are useful techniques for making new combinations of products, services and strategies.
You use the tools by identifying the attributes of the product, service or strategy you are examining. Attributes might be components, assemblies, dimensions, color, weight, style, speed of service, skills available, etc.
Use these attributes as column headings. Underneath the column headings list as many variations of that attribute as you can.
You can now use the table or "morphological box", by randomly selecting one item from each column, or by selecting interesting combinations of items. This will give you ideas that you can examine for practicality.

Notes:

  • Attribute Listing focuses on the attributes of an object, seeing how each attribute could be improved.
  • Morphological Analysis uses the same basic technique, but is used to create a new product by mixing components in a new way.
  • Matrix Analysis focuses on businesses. It is used to generate new approaches, using attributes such as market sectors, customer needs, products, promotional methods, etc.

Creativity Tools >> Improving a product or service - Reversal and SCAMPER

1 - Reversal

Improving Products and Services

Reversal is a good tool for improving a product or a service. To use it, ask the opposite of the question you want to ask, and apply the results.

Example:

Imagine that you want to improve the response of a service center. Using Reversal you would ask 'How would I reduce customer satisfaction?'. After considering this question you might give the following answers:
  • Not answering the phone when customers call
  • Not returning phone calls
  • Have people with no product knowledge answering the phone
  • Use rude staff
  • Give the wrong advice
After using Reversal, you would ensure that appropriate staff members were handling incoming phone calls efficiently and pleasantly. You would set up training programs to ensure that they were giving accurate and effective advice.

Key Points:

Reversal is a good, easy process for improving products and services. You use it by asking the exact opposite of the question you want answered, and then apply the results appropriately.

2 - SCAMPER

Generating new products and services

SCAMPER is a checklist that helps you to think of changes you can make to an existing product to create a new one. You can use these changes either as direct suggestions or as starting points for lateral thinking.
Developed by Bob Eberle, the changes SCAMPER stands for are:
  • S - Substitute - components, materials, people
  • C - Combine - mix, combine with other assemblies or services, integrate
  • A - Adapt - alter, change function, use part of another element
  • M - Modify - increase or reduce in scale, change shape, modifyattributes (e.g. colour)
  • P - Put to another use
  • E - Eliminate - remove elements, simplify, reduce to core functionality
  • R - Reverse - turn inside out or upside down, also use of Reversal.

Example:

As an example, imagine that you are a manufacturer of nuts and bolts, and you were looking for new products. SCAMPER would give you:
  • Substitute - use of high tech materials for niche markets, such as high speed steel? Carbon fiber? Plastics? Glass? Non-reactive material?
  • Combine - integrate nut and bolt? Bolt and washer? Bolt and spanner?
  • Adapt - put Allen key or Star head on bolt? Countersink head?
  • Modify - produce bolts for watches or bridges? Produce different shaped bolts (e.g. screw in plugs)? Pre-painted green bolts?
  • Put to another use - bolts as hinge pins? As axles?
  • Eliminate - Eliminate nuts, washers, heads, thread, etc.
  • Reverse - make dies as well as bolts, make bolts that cut threads for themselves in material, etc.
Using SCAMPER here has helped you define possible new products. Many of the ideas may be impractical or may not suit the equipment used by the manufacturer. However some of these ideas could be good starting points for new products.

Key points:

SCAMPER is an acronym for Substitute, Combine, Adapt, Modify, Put to another use, Eliminate, Reverse. This is a list of changes that you could make to existing products and services to open up new opportunities.

Thứ ba, ngày 14 tháng chín năm 2010

Creativity Tools

The tools in this section can help you to become more creative.They are designed to help you devise creative and imaginative solutions to problems, and help you to spot opportunities that you might otherwise miss.
The section describes the following techniques:
Before you continue, it is important to understand what we mean by creativity, as there are two completely different types. The first is technical creativity, where people create new theories, technologies or ideas. This is the type of creativity we discuss here. The second is artistic creativity, which is more born of skill, technique and self-expression. Artistic creativity is beyond the scope of these articles.
Many of the techniques in this chapter have been used by great thinkers to drive their creativity. Albert Einstein, for example, used his own informal variant of Provocation to trigger ideas that lead to the Theory of Relativity.

Approaches to Creativity

There are two main strands to technical creativity: programmed thinking and lateral thinking. Programmed thinking relies on logical or structured ways of creating a new product or service. Examples of this approach are Morphological Analysis and the Reframing Matrix.
The other main strand uses 'Lateral Thinking'. Examples of this are Brainstorming, Random Input and Provocation. Lateral Thinking has been developed and popularized by Edward de Bono, whose books you can find in the appropriate articles.

Programmed Thinking and Lateral Thinking

Lateral thinking recognizes that our brains are pattern recognition systems, and that they do not function like computers. It takes years of training before we learn to do simple arithmetic - something that computers do very easily. On the other hand, we can instantly recognize patterns such as faces, language, and handwriting. The only computers that begin to be able to do these things do it by modeling the way that human brain cells work . Even then, computers will need to become more powerful before they approach our ability to handle patterns.
The benefit of good pattern recognition is that we can recognize objects and situations very quickly. Imagine how much time would be wasted if you had to do a full analysis every time you came across a cylindrical canister of effervescent fluid. Most people would just open their can of fizzy drink. Without pattern recognition we would starve or be eaten. We could not cross the road safely.
Unfortunately, we get stuck in our patterns. We tend to think within them. Solutions we develop are based on previous solutions to similar problems. Normally it does not occur to us to use solutions belonging to other patterns.
We use lateral thinking techniques to break out of this patterned way of thinking.
Lateral thinking techniques help us to come up with startling, brilliant and original solutions
It is important to point out that each type of approach has its strength. Logical, disciplined thinking is enormously effective in making products and services better. It can, however, only go so far before all practical improvements have been carried out. Lateral thinking can generate completely new concepts and ideas, and brilliant improvements to existing systems. In the wrong place, however, it can be sterile or unnecessarily disruptive.

Taking the Best of Each...

A number of techniques fuse the strengths of the two different strands of creativity. Techniques such as the Concept Fan use a combination of programmed and lateral thinking. DO IT and Min Basadur's Simplex embed the two approaches within problem solving processes. While these may be considered 'overkill' when dealing with minor problems, they provide excellent frameworks for solving difficult and serious ones.

The Creative Frame of Mind

Often the only difference between creative and uncreative people is self-perception. Creative people see themselves as creative and give themselves the freedom to create. Uncreative people do not think about creativity and do not give themselves the opportunity to create anything new.
Being creative may just be a matter of setting aside the time needed to take a step back and allow yourself to ask yourself if there is a better way of doing something. Edward de Bono calls this a 'Creative Pause'. He suggests that this should be a short break of maybe only 30 seconds, but that this should be a habitual part of thinking. This needs self-discipline, as it is easy to forget.
Another important attitude shift is to view problems as opportunities for improvement. While this is something of a cliché, it is true. Whenever you solve a problem, you have a better product or service to offer afterwards.

Using Creativity

Creativity is sterile if action does not follow from it. Ideas must be evaluated, improved, polished and marketed before they have any value. Other sections of Mind Tools lay out the evaluation, analysis and planning tools needed to do this. They also explain the time and stress management techniques you will need when your creative ideas take off.
Have fun creating!
MindTools.com - Join Our Community!